Cần nắm vững Luật đấu thầu năm 2013 để thực hiện

Kể từ ngày 1/7 tới, Luật đấu thầu số 43/2013/QH13 có hiệu lực thi hành. Về cơ bản, Luật đấu thầu năm 2013 sửa đổi toàn diện Luật đấu thầu năm 2005. Do đó, để có thể đảm nhận và triển khai thuận lợi những nội dung mới của công tác đấu thầu trong thời gian tới, những cán bộ làm công tác đấu thầu phải nắm vững những nội dung thay đổi cơ bản của Luật. Để kịp thời phổ biến, triển khai thực hiện Luật, ngày 7/1, tại Hà Nội, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã tổ chức lớp tập huấn phổ biến những nét mới, cơ bản của Luật đấu thầu năm 2013 cho 150 cán bộ các Bộ, cơ quan ngang Bộ, doanh nghiệp nhà nước và một số hiệp hội doanh nghiệp.


Ảnh: Tiên Giang

Bao phủ toàn bộ việc mua sắm sử dụng vốn nhà nước

Theo đó, kể từ ngày Luật đấu thầu năm 2013 có hiệu lực thì Luật đấu thầu số 61/2005/QH11 hết hiệu lực thi hành; và bãi bỏ Mục 1 Chương VI Luật Xây dựng số 16/2003/QH11 và Điều 2 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của các luật liên quan đến đầu tư xây dựng cơ bản số 38/2009/QH12.

Điểm đáng lưu ý nhất đối với Luật đấu thầu năm 2013 là mở rộng tối đa phạm vi điều chỉnh nhằm quản lý chặt chẽ việc quản lý và sử dụng nguồn vốn của Nhà nước. So với Luật đấu thầu năm 2005, nhiều nội dung mới được đưa vào Luật đấu thầu năm 2013 là mua sắm sử dụng vốn nhà nước như mua thuốc, vật tư y tế; mua hàng dự trữ quốc gia; cung cấp sản phẩm, dịch vụ công…

Riêng đối với doanh nghiệp nhà nước, trước đây, chỉ những dự án đầu tư phát triển sử dụng vốn nhà nước từ 30% trở lên mới phải đấu thầu; thì nay, Luật đấu thầu năm 2013 quy định, tất cả các dự án đầu tư phát triển của doanh nghiệp nhà nước không phân biệt nguồn vốn, dù là vốn vay thương mại hay nguồn vốn nào khác,  đều thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật. 

Trường hợp lựa chọn nhà thầu cung cấp nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu, vật tư, dịch vụ tư vấn, dịch vụ phi tư vấn để bảo đảm tính liên tục cho hoạt động sản xuất, kinh doanh và mua sắm nhằm duy trì duy trì hoạt động thường xuyên của doanh nghiệp, doanh nghiệp nhà nước không bắt buộc tuân thủ theo Luật đấu thầu. Việc quy định như vậy là nhằm tăng tính chủ động của các doanh nghiệp nhà nước trong hoạt động sản xuất, kinh doanh. Mặc dù vậy, Luật đấu thầu năm 2013 quy định rõ, doanh nghiệp nhà nước phải ban hành quy định về lựa chọn nhà thầu của doanh nghiệp mình trên cơ sở bảo đảm mục tiêu công bằng, minh bạch và hiệu quả kinh tế. Việc ban hành quy định như vậy sẽ tạo nên sự thống nhất áp dụng trong toàn doanh nghiệp; đồng thời giúp các cơ quan quản lý, thanh tra, kiểm tra dễ dàng quản lý và thanh, kiểm tra hoạt động đấu thầu tại doanh nghiệp. Hơn nữa, việc ban hành quy chế đấu thầu của doanh nghiệp cũng tạo điều kiện thuận lợi cho việc giám sát, minh bạch thông tin đấu thầu tại doanh nghiệp nhà nước.

Về các hành vi bị cấm trong đấu thầu, Luật đấu thầu năm 2013 cơ bản kế thừa Luật đấu thầu năm 2005. Tuy nhiên, Luật đấu thầu năm 2013 được viết rõ ràng, mạch lạc hơn. Điều khác biệt của Luật đấu thầu năm 2013 là các nội dung được nhóm lại thành các nhóm vấn đề và mỗi nhóm vấn đề lại được định nghĩa cụ thể. Chẳng hạn như thế nào là thông thầu, thế nào là gian lận, thế nào là cản trở… 

Cùng với đó, phần giải thích từ ngữ so với Luật đấu thầu năm 2005 được viết rõ hơn, bên cạnh việc bổ sung một số định nghĩa về những khái niệm mới. Chẳng hạn như khái niệm “bên mời thầu”, Luật đấu thầu năm 2013 khẳng định, đây là cơ quan, tổ chức có chuyên môn và năng lực để thực hiện các hoạt động đấu thầu. Nếu chủ đầu tư có chuyên môn và năng lực, thì chủ đầu tư có thể trực tiếp làm bên mời thầu. Nhưng nếu không có chuyên môn và năng lực thì chủ đầu tư có thể quyết định thành lập ban quản lý dự án hoặc lựa chọn nhà thầu tư vấn để thực hiện chức năng bên mời thầu. Bên cạnh đó, đơn vị dự toán trực tiếp sử dụng nguồn vốn mua sắm thường xuyên, đơn vị mua sắm tập trung cũng có thể làm bên mời thầu. Nhưng riêng với đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư, bên mời thầu là cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc tổ chức trực thuộc do cơ quan nhà nước có thẩm quyền lựa chọn.

Đối với nhà thầu, nhà đầu tư, một trong những điều kiện về tư cách hợp lệ của nhà thầu, nhà đầu tư tham gia đấu thầu là phải đăng ký trên hệ thống mạng đấu thầu quốc gia. Việc đăng ký này khác với đăng ký thành lập doanh nghiệp. Việc đăng ký thành lập doanh nghiệp chỉ quản lý ban đầu về tên gọi, nội dung hoạt động của doanh nghiệp. Còn việc đăng ký trên hệ thống mạng đấu thầu quốc gia là liên tục được cập nhật trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp là nhà thầu, chủ đầu tư, bên mời thầu. Việc đăng ký này giúp các cơ quan quản lý nhà nước, chủ đầu tư, bên mời thầu hoặc các cơ quan liên quan có thể có số liệu cụ thể để theo dõi, giám sát. Hơn nữa, việc đăng ký này cũng là một cách thức để chứng minh năng lực, uy tín của nhà thầu, chủ đầu tư, bên mời thầu. Chẳng hạn, nhà thầu A và nhà thầu B đều có 5 năm kinh nghiệm, nhưng nhà thầu A có tiểu sử là tiến độ thi công nhanh, đảm bảo uy tín, chất lượng công trình, thì sẽ được ưu tiên xem xét hơn nhà thầu B. Ngoài ra, việc đăng ký công khai, minh bạch trên hệ thống mạng đấu thầu quốc gia cũng giúp cho các bên liên quan, cộng đồng có thể giám sát chặt chẽ hoạt động của nhà thầu, hay chủ đầu tư, bên mời thầu…

(còn nữa)

Theo Báo Đấu Thầu

Nhận xét